Tính khoản vay mua nhà
Số tiền trả hằng tháng đã gồm thuế, bảo hiểm và PMI, cùng khoản tiết kiệm nếu bạn trả thêm.
Cách tính
Cùng một công thức mà mọi ngân hàng dùng, với số liệu của bạn.
- Số tiền vay
- P = − =
- Lãi suất tháng
- r = ÷ 12 =
- Số kỳ trả
- n = × 12 =
- Gốc và lãi
- M = P × r ÷ (1 − (1 + r)−n)= × ÷ (1 − )=
- Thuế, bảo hiểm, PMI, phí quản lý
- Trả hằng tháng
- =
Tiền trả góp của bạn đi đâu
Gốc và lãi đã trả trong từng năm của khoản vay. Những năm đầu, phần lớn mỗi kỳ trả là tiền lãi.
- Gốc
- Lãi
Lịch trả nợ
Hiểu khoản trả góp của bạn
Những năm đầu của khoản vay, phần lớn mỗi kỳ trả là tiền lãi vì lãi được tính trên dư nợ lớn. Khi dư nợ giảm dần, phần trả gốc trong cùng một khoản trả góp tăng lên. Biểu đồ cho thấy sự thay đổi đó qua từng năm.
Thuế nhà đất và bảo hiểm không làm thay đổi khoản vay, nhưng vẫn là chi phí nhà ở hằng tháng bạn phải tính. Một nguyên tắc phổ biến là giữ chi phí nhà ở dưới 28% thu nhập trước thuế mỗi tháng.
Câu hỏi thường gặp
Khoản trả góp mua nhà hằng tháng gồm những gì?
Ở Mỹ, phần lớn bên cho vay thu bốn khoản, thường gọi tắt là PITI: gốc, lãi, thuế nhà đất và bảo hiểm nhà. Nếu trả trước dưới 20%, thường phải cộng thêm bảo hiểm khoản vay (PMI), và phí quản lý cũng nằm trong ngân sách hằng tháng. Công cụ này hiển thị tất cả.
Khi nào thì không phải trả PMI nữa?
Với khoản vay thông thường ở Mỹ, bên cho vay phải tự động hủy PMI khi dư nợ theo lịch giảm xuống 78% giá trị ban đầu của căn nhà. Bạn có thể đề nghị hủy sớm hơn ở mức 80%. Công cụ này ngừng tính PMI ở mức 78%.
Trả thêm giúp tiết kiệm bao nhiêu?
Mọi khoản trả thêm đều trừ thẳng vào gốc, nên tiền lãi của từng tháng sau đó sẽ giảm. Nhập số tiền vào ô “Trả thêm mỗi tháng” để xem tiền lãi tiết kiệm được và bạn trả xong sớm bao lâu.
Nên vay 15 năm hay 30 năm?
Vay 15 năm thì trả hằng tháng cao hơn, nhưng lãi suất thường thấp hơn và tổng tiền lãi ít hơn nhiều. Vay 30 năm thì trả hằng tháng thấp hơn. Hãy đổi thời hạn ở trên và so sánh tổng tiền lãi.